|
1. Khái niệm: - Bệnh thấp (Rheumatic disease) là bệnh tự miễn sau viêm nhiễm đường hô hấp trên (viêm họng, viêm amygdales) do cầu khuẩn bê ta tan máu nhóm A, gây tổn thương viêm mô liên kết ở nhiều cơ quan như: Tim, khớp, mạch máu, thần kinh và tổ chức dưới da. - Thấp tim: là một tổn thương viêm tim do thấp (Rheumatic disease) bao gồm: viêm màng ngoài tim, cơ tim và màng trong tim, xảy ra trong hoặc sau một cơn sốt thấp (Rheumetic Fever). Tổn thương viêm ở tim rất nguy hiểm, có thể gây tử vong trong giai đoạn viêm cấp của bệnh hoặc thành sẹo biến dạng van tim đưa đến bệnh van tim do thấp (Chronic rheumatic cadiac valvular disease) như: hẹp van tim, hở van tim, vôi hoá. 2. Nguyên nhân gây bệnh: - Nguyên nhân gây bệnh thấp tim là do liên cầu khuẩn bêta tan máu (Hemolytic Streptococci) nhóm A, khởi đầu gây bệnh ở đường hô hấp trên như viêm họng, viêm Amygdales nếu không được điều trị tốt sẽ đưa đến viêm khớp và viêm tim. 3. Tầm quan trọng và dịch tễ: - Bệnh thường gặp cả hai giới từ 5 đến 15 tuổi thường xảy ra vào mùa đông và đầu mùa xuân, đặc biệt chú ý những trẻ em có triệu chứng bệnh hô hấp nhiều lần (sốt, ho, đau họng, chảy mũi) và trẻ đau khớp tay chân. - Bệnh xảy ra ở tất cả các nước trên thế giới nhưng nhiều hơn ở các nước đang phát triển. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WTO) mỗi năm có khoảng12-30 triệu trẻ em mới mắc bệnh thấp tim cấp và khoảng nữa triệu trẻ em tử vong do bệnh van tim hậu thấp. Tại Hội nghị Thế giới tại Genever ngay 07-09/09/1994 báo cáo tần xuất thấp tim tại các nước đang phát triển tử 1-12%. - Tại Việt Nam thấp tim và bệnh van tim hậu thấp còn là một bệnh nặng rất phổ biến ở trẻ em. Trong cộng đồng, tần xuất thấp tim ở tuổi học đường từ 2-4%. Trong bệnh viện thì bệnh thấp tim và hậu thấp chiếm 46% tổng số bệnh tim ở trẻ em dưới 15 tuổi nằm điều trị nội trú. Năm 1993 Bệnh viện Nhi Đồng TP. HCM khảo sát trên học sinh tiểu học ở Củ Chi thấy tỉ lệ phết họng dương tính với liên cầu khuẩn nhóm A là 15%. Ngoài ra thấp tim có thể chỉ biểu hiện triệu chứng nhẹ như viêm họng, đau khớp mà không được khám xét thì không phát hiện bệnh, chỉ phát hiện khi có biểu hiện suy tim nặng (tim to, khó thở) mà thường phát hiện ở nữ khi mang thai, sinh để, gây ra những hậu quả nặng nề. - Về sinh lý, thấp tim là một bệnh nặng tử vong 6,7% và để lại di chứng bệnh van tim vĩnh viễn. Bệnh nhân mang di chứng của bệnh van tim hậu thấp thực sự là người tàn tật, không học tập, không lao động sản xuất được phải sống nhờ vào người khác, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. - Điều trị bệnh van tim do thấp rất tốn kém, điều trị nội khoa chỉ nhằm hổ trợ và kéo dài thời gian chờ mổ. Điều trị phẫu thuật (sữa van, thay van…) thì chi phí rất cao. Trong khi đó chúng ta hoàn toàn có thể tránh mắc bệnh và các di chứng của thấp tim nếu chúng ta phát hiện và điều trị sớm các triệu chứng viêm nhiễm đường hô hấp trên do liên cầu một cách đúng đắn (phòng thấp cấp I) và dự phòng tốt khi đã bị thấp tim (phòng thấp cấp II) với một chi phí rất thấp. 4. Phòng bệnh: - Thấp tim là bệnh nguy hiểm nhưng nếu chúng ta chú ý và dự phòng tốt thì hoàn toàn có thể tránh mắc bệnh và hạn chế di chứng của bệnh với một biện pháp đơn giản và chi phí rất thấp.- Sở dĩ các nước phát triển trên thế giới có tỉ lệ mắc bệnh thấp tim thấp là nhờ chương tình phòng thấp tốt. - Ở nước ta chương trình phòng thấp cấp II được bắt đầu áp dụng năm 1976 ở Hà Nội và năm 1978 ở TP. HCM cho đến Hội nghị phòng thấp năm 1991 chương trình phòng thấp cấp I mới bắt đầu áp dụng ở một số điểm, đến năm 2000, khuyến cáo số 12 của Hội tim mạch học Quốc gia Việt Nam một lần nữa đã đề nghị Bộ Y tế và Chính phủ cho áp dụng chương trình phòng thấp cấp I như là một chương trình Y tế Quốc gia ở tất cả các cơ sở Y tế nhằm giúp cho trẻ em Việt Nam tránh được căn bệnh nguy hiểm này. - Mặc dù vậy, cho đến nay việc phòng thấp ở nước ta chỉ mới thực hiện được một số nơi và hiệu quả chưa cao. Do đó, số trẻ em bị thấp tim và bệnh van tim hậu thấp vẫn còn khá cao. Tại Bệnh viện Thái Bình Dương hầu hết các bệnh nhân thấp tim và bệnh van tim hậu thấp vào viện đều không biết gì về phòng thấp cấp I và rất ít người được thực hiện phòng thấp cấp II, nhưng không đầy đủ. .::BS. Nguyễn Thành Phi::. |