Tra cứu
Thông tin y học
Bệnh Rubella
| Bệnh Rubella |
|
|
| Người viết: Administrator | |
| 20/05/2011 | |
I. Bệnh Rubella là bệnh gì? Có nguy hiểm không ? Bệnh Rubella (hay còn gọi là Ru-bê-on, bệnh sởi Đức) là một bệnh truyền nhiễm, do vi rút Rubella gây nên. Bệnh lưu hành trên toàn thế giới, thường xuất hiện vào mùa đông xuân, có thể xảy ra thành dịch. Tuy bệnh Rubella là một bệnh lây nhiễm không NGUY CẤP (không gây nên biến chứng nguy hiểm, không gây chết người) như bệnh sởi thường (thuờng gây những biến chứng trầm trọng: viêm phổi, viêm phế quản, viêm não, viêm cơ tim, viêm tai giữa, rối loạn tiêu hóa…) nhưng lại khá NGHIÊM TRỌNG do có khả năng gây nên những dị tật bẩm sinh nặng nề ở bào thai. II. Bệnh Rubella lây lan như thế nào? Bệnh Rubella được lây truyền qua đường hô hấp do: - Hít phải những giọt dịch tiết đường mũi họng (nước bọt, nước mũi) có chứa vi rút của người bệnh được bắn ra khi tiếp xúc trực tiếp mặt đối mặt với người bệnh. - Tiếp xúc với các vật dụng, các bề mặt (sàn nhà, bàn ghế, đồ chơi…) có dính chất tiết mũi họng của người bệnh. - Thai nhi bị nhiễm vi rút Rubella sau khi sinh ra sẽ tiếp tục thải vi rút qua phân cho đến 30 tháng tuổi. III. Những đối tượng nào dễ mắc bệnh này? Tất cả mọi người, mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh Rubella, trong đó đối tượng dễ gặp nguy hiểm nhất là phụ nữ mang thai (trừ những người đã bị Rubella lúc còn nhỏ thì đã được miễn dịch, không mắc lại). Phụ nữ có thai bị Rubella Thường người mẹ không có triệu chứng, điều đáng quan tâm nhất là những dị tật của thai nhi trong bụng mẹ. Trong 3 tháng đầu: 70%-100% trẻ đẻ ra bị Rubella bẩm sinh và 25% trẻ bị dị tật bẩm sinh ở các cơ quan tim, mắt, não. Sau 3 tháng: Nếu mẹ có thai được 13-16 tuần, thì trẻ bị Rubella bẩm sinh với tỷ lệ 17%. Khi thai được 17- 20 tuần, thì tỷ lệ 5%. Và khi thai hơn 20 tuần, tỷ lệ đó bằng 0%. Các biến chứng dị tật của thai nhi: Khi bà mẹ mang thai 3 tháng đầu bị bệnh Rubella thì dễ bị sảy thai hoặc thai chết lưu trong tử cung; nếu đẻ được thì thai thiếu cân, chậm lớn, chậm mọc răng và kèm theo các dị tật bẩm sinh như đục nhân mắt (một hoặc hai bên); đục giác mạc; tim tiên thiên lỗ thông vách tim, còn ống động mạch, hẹp eo động mạch phổi; trẻ còn có thể bị câm, điếc, chậm phát triển trí tuệ. IV. Những biểu hiện lâm sàng của bệnh Sau khi virut vào cơ thể độ 2-3 tuần lễ, bệnh nhân hoàn toàn bình thường. Tiếp theo có 3 triệu chứng chính là sốt, phát ban và nổi hạch. Sốt: Đau đầu, mệt mỏi thường xuất hiện 1- 4 ngày, sau khi phát ban thì sốt giảm. Sốt nhẹ 38,5oC. Nổi hạch: Ở vùng xương chẩm, khuỷu tay, bẹn, cổ, sờ hơi đau. Hạch thường nổi trước phát ban, tồn tại vài ngày sau khi ban bay hết. Phát ban: là dấu hiệu làm người ta để ý tới. Ban mọc lúc đầu ở trên đầu, mặt, rồi mọc khắp toàn thân, thường không tuần tự như sởi. Nốt ban có hình tròn hay bầu dục, đường kính chừng khoảng 1-2mm, các nốt có thể hợp thành từng mảng hay đứng riêng rẽ. Trong vòng 24 giờ ban mọc khắp người, chỉ sau 2-3 ngày là bay hết. Cần phân biệt với ban của sởi: Ban sởi sờ mịn, mọc thứ tự từ trên đầu, mặt xuống, sau khi bay để lại các vảy như phấn rôm, trên da có các vằn màu sẫm. Đau khớp hoặc đau khắp mình mẩy, hay gặp ở phụ nữ. Các khớp ngón tay, cổ tay, gối, cổ chân đau trong khi phát ban, sau đó không để lại di chứng. Các triệu chứng bệnh kéo dài từ 3 – 4 ngày rồi tự hết.Riêng triệu chứng đau khớp có thể kéo dài lâu hơn.
V. Các thể lâm sàng Rubella bẩm sinh: Virut từ máu mẹ qua nhau thai. Trẻ sơ sinh khi đẻ ra đã có ban, hoặc trong vòng 48 giờ sau sinh. Bệnh nhi có gan to, lách to, vàng da. Thể xuất huyết do giảm tiểu cầu: Chiếm tỷ lệ 1/3.000 ca. Xuất hiện xuất huyết vào 1-2 tuần sau khi phát ban. Có thể chảy máu cam, xuất huyết tiêu hóa, trẻ sơ sinh có thể chảy máu rốn. Điều trị: Cần điều trị triệu chứng như giảm đau, hạ nhiệt. VI. Chăm sóc bệnh nhân Rubella như thế nào ? Bệnh Rubella là một bệnh lành tính, không nguy kịch nên có thể để bệnh nhân tại nhà để chăm sóc Giữ ấm, tránh gió, kiêng nước trong thời gian phát ban, đề phòng bội nhiễm viêm đường hô hấp. Ăn uống đủ chất dinh dưỡng để nâng cao sức đề kháng. Tăng cường ăn hoa quả như cam, chanh và các vitamin. - Cho người bệnh ăn thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước, ăn nhiều trái cây. - Người bệnh cần được vệ sinh mũi họng (nhỏ mũi và súc họng) hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý 9%o . - Nếu nhức đầu nhiều hoặc đau khớp có thể sử dụng thêm thuốc giảm đau. - Đối với trẻ nhỏ cần giặt khăn bằng nước ấm lau mình mẩy hàng ngày cho bé. VII. Làm thế nào để phòng tránh bệnh Rubella? Hai biện pháp chính của phòng bệnh là cách ly và tiêm phòng bằng vaccin 1. Cách ly người bệnh - Thời gian cách ly: từ lúc bắt đầu phát bệnh (phát ban) cho đến 7 ngày sau khi phát ban. - Để người bệnh ở trong một phòng riêng, có cửa sổ, thoáng mát, có đủ ánh nắng mặt trời. - Sử dụng các vật dụng sinh hoạt cá nhân riêng cho người bệnh (khăn mặt, ly, chén, muỗng, đũa, chăn, gối, màn…). 2. Hạn chế tiếp xúc với người bệnh. Khi cần tiếp xúc thì phải đeo khẩu trang. Sau khi tiếp xúc phải rửa tay ngay bằng xà phòng. Đặc biệt những phụ nữ đang mang thai cần tuyệt đối tránh tiếp xúc với người bệnh. 3. Vệ sinh phòng ở của người bệnh: Lau sàn phòng, bàn ghế, tủ giường, đồ chơi… của người bệnh hàng ngày bằng nước Javel, hoặc dung dịch Cloramin B sau đó rửa lại bằng nước sạch.Đối với những đồ vật nhỏ có thể đem phơi nắng. 4. Tiêm chủng vắc xin. Tiêm phòng vaccin Rubella giảm độc lực, được ứng dụng từ năm 1969 tạo nên miễn dịch ít nhất là 16 năm, hoặc có thể cả đời. Vì vậy nên tiêm phòng Rubella rộng rãi cho trẻ từ 12-24 tháng tuổi. Đối với phụ nữ đang ở tuổi sinh đẻ, khi tiêm phòng, phải sử dụng các biện pháp tránh thai hữu hiệu trong 3 tháng liên tục, gồm 1 tháng trước khi chủng và 2 tháng sau khi chủng. VII. Tiêm chủng vắc-xin ở đâu ? Những đối tượng nào cần được tiêm chủng ? - Tiêm chủng vắc-xin là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng ngừa bệnh Rubella. Người dân có thể đến tiêm chủng tại Bệnh viện hoặc tại các Trung tâm Y tế Quận Huyện.. - Lứa tuổi bắt đầu tiêm chủng là trẻ em từ 12 – 15 tháng tuổi trở lên. * Những đối tựơng sau đây không nên tiêm phòng vắc xin phòng Rubella. + Phụ nữ có thai hoặc đang nghi ngờ có thai. + Những người dị ứng với thuốc Neomycine, dị ứng với trứng. + Những người có phản ứng với những lần tiêm ngừa Rubella trước. + Bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, hoặc đang sử dụng những thuốc ức chế miễn dịch. + Bệnh nhân bị bệnh ác tính về máu. + Bệnh nhân bị nhiễm trùng cấp tính hoặc mãn tính. (Ví dụ như bệnh Lao chưa được điều trị). * Lưu ý: - Sau khi tiêm vắc-xin sẽ phòng được bệnh trong 10 năm. - 3 tháng sau khi tiêm ngừa vắc-xin mới được phép mang thai. - Đối với người lớn, có thể làm xét nghiệm huyết thanh. Nếu đã có miễn dịch thì không cần tiêm chủng. - Phụ nữ đang mang thai mà bị nhiễm vi-rút Rubella hoặc sống trong vùng có dịch Rubella nên đến cơ sở có thể xét nghiệm tìm kháng thể đặc hiệu của vi-rút để có chẩn đoán xác định bệnh, sau đó đến khám tại các phòng khám sản phụ khoa để được điều trị và xử trí thích hợp. TS. Đào Kỳ Hưng |
|
| Cập nhật ( 20/05/2011 ) |
| < Trước | Tiếp > |
|---|
